Công cuộc cải tổ Chaebol của Hàn Quốc

Thứ ba, 20/07/2010 12:15

Từ những tập đoàn đầu tàu của nền kinh tế, các Chaebol đã ngủ quên trong ưu đãi bảo lãnh của Chính phủ, biến nước này thành con nợ tỷ USD.

Khi cuộc khủng hoảng châu Á 1997 nổ ra, các ngân hàng nước ngoài đồng loạt từ chối cho các chaebol đảo nợ. Một nửa trong số 30 chaebol hàng đầu (như Kia, SSangyong, Sammi, Jinro, Hanbo…) đã phá sản hoặc phải sáp nhập với các chaebol khác.

Vì chính phủ đứng ra bảo lãnh nợ cho các chaebol vay của nước ngoài, chính quyền tổng thống Kim Young Sam đối mặt với khoản nợ khổng lồ hàng chục tỉ USD không có khả năng thanh toán, dù rằng nợ nước ngoài chỉ chiếm 30% GDP và tổ công tác Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ở Hàn Quốc nhận định nước này không thể nào trở thành nạn nhân của khủng hoảng tài chính.

Tháng 12/1997, Hàn Quốc phải cam kết thi hành cải tổ Chaebol để đổi lại món vay 58 tỉ USD cứu trợ từ IMF.

Ngoài những cải tổ mà IMF buộc Hàn Quốc phải thi hành, chính quyền tổng thống Kim Dae Jung lên thay năm 1997 đã họp các gia đình chaebol để thông báo các chính sách cứng rắn và luật pháp sẽ ban hành để cải tổ cơ chế quản lý các chaebol như điều luật “sẽ điều tra và xử lý hình sự những chaebol thiếu trách nhiệm gây ra khủng khoảng kinh tế”.

Dưới áp lực đó, các chaebol buộc phải bán những công ty thành viên cho nhau để giảm bớt đầu tư ngoài ngành trái luật.

Việc áp đặt phải có thành viên độc lập, không phải là cổ đông nhưng vẫn có quyền bầu bán, quyết định trong HĐQT là một cải tổ sâu sắc. Bài học kinh nghiệm lớn về giám sát tập đoàn là vận dụng linh hoạt khái niệm “dân chủ” trong nghị trường chính trị.

Việc luật hóa quy định sử dụng các thành viên độc lập trong HĐQT các tập đoàn nhà nước và các công ty quy mô lớn sẽ giúp có thêm những con mắt giám sát và kiểm soát hữu hiệu các tập đoàn.

Công cuộc cải tổ Chaebol của Hàn Quốc
Công cuộc cải tổ Chaebol của Hàn Quốc

Lịch sử hình thành

Chaebol là mô hình kinh tế mà ở đó nhà nước liên kết với các tập đoàn nhà nước và tập đoàn gia đình trị nhằm phát triển kinh tế theo định hướng phát triển của Chính phủ.

Sau cuộc binh biến năm 1961, chính quyền dưới thời tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Park Chung Hee bắt đầu xây dựng mô hình Chaebol nhằm phục hồi nền kinh tế theo hướng xuất khẩu và làm sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu.

Theo các nhà nghiên cứu, Chaebol được xây dựng dựa trên hệ thống Zaibatsu ở Nhật vốn rất hiệu quả trong thời gian Minh Trị Thiên Hoàng canh tân đất nước từ năm 1858. Theo mô hình Zaibatsu, các công ty Nhật phát triển ngành ngân hàng trước rồi thành lập các công ty con lấy vốn ngân hàng để mở rộng kinh doanh đa ngành nghề mà tiêu biểu là các tập đoàn Mitsui, Mitsubishi, Suzuki, Sumitomo…

Tuy nhiên, điểm khác biệt là Chính quyền tổng thống Park Chung Hee đã quốc hữu hóa các ngân hàng ở Hàn Quốc và cấm các Chaebol lập ngân hàng. Chính quyền đã đề ra các kế hoạch 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế, chọn một số tập đoàn gia đình trị lớn để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.

Nhằm đảm bảo những tập đoàn này phải hoạt động theo “chỉ đạo” của nhà nước, chính quyền tổng thống Park đã chỉ thị các ngân hàng ưu đãi vốn vay cho các Chaebol này để họ phục vụ mục tiêu chính trị: thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đề ra trong các kế hoạch năm năm. Mối liên kết nhà nước – tập đoàn gia đình trị được hình thành và ý nghĩa của danh từ Chaebol chính là thể hiện mối liên hệ này.

… phát triển…

Dưới thời chính quyền tổng thống Park, các ngân hàng quốc doanh Hàn Quốc không chỉ cho các Chaebol vay nhiều khoản với lãi suất ưu đãi thấp mà còn được phép bảo lãnh nợ nước ngoài của các chaebol.

Với chủ trương nhà nước gánh bớt rủi ro tài chính, các Chaebol yên tâm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế theo kế hoạch nhà nước đề ra. Nhà nước đã chủ động trở thành “củ cà rốt”, đồng thời đóng vai trò cầm “cây gậy” giám sát tài chính các khoản nợ ưu đãi này. Nhờ thế, các Chaebol đã phát triển nhanh chóng cả trong nước và khu vực châu Á, Trung Đông suốt gần 20 năm qua.

Năm 1973, chính quyền tổng thống Park quyết định phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn bao gồm: thép, hóa dầu, ôtô, chế tạo máy, đóng tàu và điện tử. Chính quyền đã chọn ra những Chaebol mạnh nhất, nhiều tiềm năng nhất để “điều động” họ thực thi kế hoạch lớn này bằng những khoản vay ưu đãi khổng lồ.

Với sự hỗ trợ và ưu đãi này, các Chaebol đã phát triển không ngừng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Thành công bước đầu đã khiến các Chaebol nảy sinh tâm lý “không sợ thất bại” vì họ biết đã có chính phủ hậu thuẫn. Đến giai đoạn này, các Chaebol cũng đã hoàn thiện hệ thống quản lý riêng của mình. Mỗi Chaebol có đến hàng chục công ty con chuyên kinh doanh các lĩnh vực khác nhau.

Với vốn ưu đãi từ nhà nước, các Chaebol đầu tư mạnh vào bất cứ ngành nào có tiềm năng phát triển mà không đặt nặng vấn đề lợi tức. Quan trọng hơn, nhiệm vụ của các Chaebol là phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp và thực hiện kế hoạch chính phủ vạch ra. Trong một thời gian ngắn, top 10 Chaebol đã có doanh số 10% GDP vào năm 1979.

Nhà máy đóng tàu Hyundai – Hàn Quốc

Năm 1979 kinh tế thế giới khủng hoảng, tổng thống Park Chung Hee bị ám sát, tổng thống Chun Do Hwan lên cầm quyền. Sự phát triển tràn lan vào các ngành kinh tế mũi nhọn đã ảnh hưởng sự tăng trưởng kinh tế vĩ mô và quá trình phát triển bền vững. Nhiều Chaebol không có khả năng trả nợ.

Tổng thống Chun Do Hwan yêu cầu tái cấu trúc các ngành Chaebol, quá trình hoán chuyển các công ty con ngoài ngành do các Chaebol đầu tư sang cho các công ty khác vô cùng khó khăn.

Từ những năm 1980 về sau, chính quyền tổng thống Chun Do Hwan đã “rộng rãi” giãn nợ, xóa nợ cho các Chaebol qua những chương trình hỗ trợ đặc biệt nhờ khoản vay nóng từ Mỹ và Nhật. Năm 1981,ước tính Mỹ và Nhật đã chi 4 tỉ USD cho Hàn Quốc để giải quyết cuộc khủng hoảng nội bộ này.
…sa lầy…

Từ những năm 1980, Hàn Quốc đã nhận diện những vấn đề xã hội, chính trị liên quan đến các Chaebol và có những nỗ lực ban đầu để giải quyết, tuy chưa đủ mạnh và toàn diện. Bởi sau gần ba thập niên phát triển nhanh, các chaebol giờ đã là những tập đoàn chiếm tỉ trọng lớn của nền kinh tế Hàn Quốc, tạo ra các hậu thuẫn chính trị to lớn và quan trọng mà bất kì đảng nào cũng đều rất muốn tranh thủ.

Khó khăn thứ nhất là nhà nước gặp nhiều hạn chế trong việc tác động lên các gia đình lãnh đạo chaebol. Mặc dù nhà nước có thể cắt ưu đãi vốn để buộc các chaebol tuân thủ yêu cầu, nhưng lại không muốn ảnh hưởng đến kinh tế nếu đối đầu xảy ra.

Thứ 2, các gia đình này nắm quyền kiểm soát toàn bộ chaebol, không để các nhân tố độc lập can thiệp vào việc vạch ra kế hoạch chiến lược, lựa chọn dự án và lĩnh vực đầu tư, kể cả các cổ đông nhỏ hay nhà nước. Sự thiếu một cơ chế quản lý chuyên nghiệp, độc lập với cơ chế làm chủ đã khiến nảy sinh nhiều rắc rối. Cũng không hề có cơ chế nào cản trở các lãnh đạo chấp thuận những dự án không sinh lợi, kế hoạch kém hiệu quả, thiếu cân nhắc, gây lỗ chung.

Khi thiếu vắng tiếng nói độc lập từ các nhà quản lý chuyên nghiệp trong hội đồng quản trị (HĐQT) chaebol, sự ưu đãi vốn từ nhà nước đã góp phần đẩy các lãnh đạo chaebol liều lĩnh vay nợ để đầu tư tràn lan vào những dự án sinh lợi kém, thậm chí không hiệu quả mà không ai có thể cản họ.

Tình trạng vay nợ tràn lan này đã đẩy tỉ lệ dư nợ lên đến 400% trị giá vốn sở hữu trong 30 chaebol lớn nhất Hàn Quốc trong thập niên 1990.

Các chaebol tuy có doanh số khổng lồ nhưng tỉ lệ lợi nhuận trên doanh số (N.I.) rất thấp, dù rằng tỉ lệ lời trên vốn sở hữu (R.O.E) là khá cao do vay nợ quá nhiều. Điều này cho thấy các dự án đầu tư của chaebol đều kém hiệu quả, sinh lời rất ít.

Vì có tỉ lệ lợi nhuận thấp nên khả năng trả nợ sẽ rất kém và tập đoàn không thể vượt qua bất cứ khủng hoảng kinh tế nhỏ hay lớn nào.

Hậu quả nữa là các tập đoàn luôn “khát vốn”, luôn cần vay bổ sung để sống qua ngày và trở thành một gánh nặng tài chính quốc gia. Cũng vì cần vốn lưu động, các chaebol sẽ ngày càng liều lĩnh đầu tư vào các ngành nhiều rủi ro hơn nhằm đạt lợi nhuận cao.

Khi thấy trước viễn cảnh khó khăn về vốn, các tập đoàn sẽ đầu tư vào ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty tài chính phi ngân hàng, công ty bảo hiểm… để huy động vốn trong xã hội.

Các điều khoản cải tổ Chaebol của Hàn Quốc

– Minh bạch hóa quản lý bằng cách công bố các báo cáo tài chính, thông tin tài chính và thông tin kinh doanh, điều hành chaebol.

– Không cho phép công ty mẹ bảo lãnh nợ cho công ty con thuộc tập đoàn.

– Xác lập và khống chế các tỉ lệ tài chính nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho tập đoàn. Trong đó tỉ lệ nợ vay trên vốn sở hữu không quá 200%.

– Tập trung vào ngành nghề chuyên môn nhằm gia tăng tính cạnh tranh ở mức độ toàn cầu.

– Quy trách nhiệm cá nhân các lãnh đạo gia đình chaebol trong việc điều hành và lãnh đạo tập đoàn. Hủy bỏ hội đồng các tổng giám đốc, các công ty mẹ cũng như cơ quan điều hành các hoạt động ngoài ngành. Gia tăng quyền hạn cho cổ đông thiểu số. Đánh thuế lên giá trị quà tặng nhằm công khai và tránh hối lộ.

– Cấm các chaebol sở hữu các công ty tài chính phi ngân hàng.

– Khống chế đầu tư lòng vòng vào các công ty thành viên và cấm một số giao dịch giữa các công ty thành viên với nhau.

– Nghiêm cấm lễ lộc, quà cáp, hình thức tác động không hợp lệ đối với những người thừa kế chaebol.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here