Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện GS Trần Hữu Tước. (Ảnh tư liệu của gia đình)
(DVT.vn) - “Ủa, thầy về thật sao?” Cô sinh viên y ngạc nhiên tiễn thầy Trần Hữu Tước về nước, để lại phía sau mười mấy năm miên man kỷ niệm! Thôi, từ biệt!
Để đánh dấu và kết thúc cuộc viếng thăm lịch sử hiếm có của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp, vào lúc 12 giờ đêm 14/9/1946, một bản Tạm ước được ký giữa Người với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại.
So với bản Hiệp định 6/3/1946, thì bản Tạm ước có những điểm thoái bộ; số đông anh chị em Việt kiều chưa hiểu rõ thâm ý và tình hình chính trị chung, tỏ ra lo lắng, thắc mắc.
Hồ Chủ tịch chủ động, mỉm cười giải thích:
- Vào Liên hiệp Pháp thì đã có gì đâu! Như vào quãng trống chưa có nhà, nền, nóc gì, ta cứ vào! Vào và hoạt động chứ sao!
Hôm sau, chủ nhật, ngày cuối cùng ở Paris. Phải, ngày mai ra đi, không hề ngoảnh lại, để dấn bước trên con đường mới! Và đêm cuối, trong căn nhà đầy thân thương, nhưng không còn luyến tiếc, cũng là một đêm ghi nhớ trong cuộc đời đây đó.
6 giờ sáng ra đi, với một chiếc cặp da nhẹ nhàng, tuy đã phải để lại miên man mười mấy năm sau gót. Vì đã tự biết tất cả rồi, một mình đến nhà ga Lyon, một nhà ga ở Paris, như một khách du lịch lữ hành, trong lòng như ngân lên một niềm hạnh phúc: “Ta ra đi ! Ta ra đi !”. Chưa bao giờ sân ga, các bậc lên tàu lại đặc biệt đông Việt kiều như vậy, bao nhiêu nét mặt vui, buồn, xúc động!
Ga Lyon, một nhà ga ở thủ đô Paris, nơi diễn ra bao cảnh chia ly.
Nhẹ nhàng bước lên toa tàu, giữa tiếng đầu máy, đang thêm than, tăng hơi, một nữ sinh viên y khoa năm thứ 6, vội hỏi ngạc nhiên:
- Ủa, thầy về thật sao?
- Về thật đấy!
Phái đoàn Pháp ra tiễn Hồ Chủ tịch. Chủ tịch Thượng nghị viện Pháp, một cụ già dong dỏng cao, có chòm râu cằm quen thuộc, ôm hôn tiễn biệt Hồ Chủ tịch, hai bộ râu siết chặt nhau, thật hữu nghị !
Hồ Chủ tịch vẫy tay từ biệt bà con, có những tiếng khóc nức nở, những tiếng xụt xịt... Tàu chuyển bánh, lạ lùng thay lúc phân kỳ, đoàn xe lửa tốc hành đặc biệt, chỉ mắc mấy toa riêng của Tổng thống Pháp có buồng ngủ, buồng khách, buồng ăn, buồng tắm riêng, cả một toa đọc sách báo, và nhiều tủ sách. Viên Cao uỷ đặc trách cùng một đại tá tuỳ tùng đi tiễn, cùng một số nhân viên an ninh. Sau mấy đêm ít ngủ, nay thảnh thơi trong một căn phòng rộng rãi, êm ru, cứ chuyển động, tắm một lúc cho giũ hết bụi Paris quá khứ, rồi thiếp đi, chẳng ngó gì đến những trạm đỗ đã bao lần qua lại. Lúc đưa mắt qua phòng bên, thấy Chủ tịch vẫn ngồi đọc sách báo, thỉnh thoảng nói chuyện vài câu với viên Cao uỷ.
Bác Hồ cùng gia đình một trí thức Việt kiều.
Gió đã mát, thoang thoảng đưa lại hương vị hoa cỏ miền nam nước Pháp. Chợt hiện lên những kỷ niệm xa xăm đang như những cột dây thép, cứ thi nhau giật lùi về dĩ vãng. Gần Marseille có một trại lớn, các lính thợ không chuyên được tập trung đến, Hồ Chủ tịch dự một cuộc mít-tinh tập hợp một số dân chúng Pháp và đông đảo Việt kiều. Người nói ngắn gọn, nhưng đanh thép, nhắc lại truyền thống vẻ vang của dân tộc, bao lần đứng lên vì Độc lập, Tự do. Tổ quốc là trên hết, và nhiệm vụ chung, phải đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, trong khi còn ở trên đất Pháp, anh em phải đùm bọc lấy nhau, đoàn kết một lòng, cố học văn hoá, nắm được một nghề trong tay, để sau này về xây dựng đất nước, và phải hữu nghị với nhân dân nơi ở hay làm việc.
Mọi người đều như thấm sâu từng lời ấm áp của non sông đang đến với mình, và khi ân cần căn dặn những điều chí tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói những lời tâm huyết của Nguyễn Ái Quốc năm xưa.
Miền nam nước Pháp đẹp duyên dáng và dịu hơi đầu thu với làn nước biếc, với dãy cây cọ, cùng những biệt thự màu trắng, trong ánh sáng trong vắt, đón tiếp Đoàn.
Bác Hồ ở miền nam nước Pháp.
Hồ Chủ tịch tham quan quân cảng Toulon. Tại đây, cuối năm 1942, gần toàn bộ phần còn lại của nước Pháp không muốn rơi vào tay quân quốc xã, cũng không muốn theo phía Đồng minh, khi Hitler cho lệnh tràn khắp nước Pháp, xoá sạch ranh giới vùng tạm chiếm và vùng “tự do” miền nam, vị Thuỷ sư đô đốc chỉ huy quân cảng Toulon đã ra lệnh cho tất cả các chiến hạm phải tự huỷ! Những chiếc tuần dương hạm, thiết giáp hạm, tàu ngầm, tàu phòng mìn, đủ các loại, các cỡ, đều phải tự đánh đắm, cả thảy hơn 100 chiếc, ngổn ngang trong quân cảng nổi tiếng này! Có người gọi một cách châm biếm: “Đây quả thật là một bảo tàng thuỷ quân nước Pháp !”
Thật đáng để cho Hồ Chủ tịch và Đoàn ta quan sát và suy nghĩ!
Hồ Chủ tịch đứng ngắm hồi lâu, hai mắt Người sáng rực lên, như bùng cháy một ngọn lửa hy vọng và quyết tâm lạ lùng. Phải bắt gặp cái nhìn giây lát đó, để đoán được phần nào tâm tư người chiến sĩ cách mạng lão thành, trước sự sụp đổ cụ thể của một cường quốc đã từng dùng hải quân đi xâm chiếm bao nhiêu đất nước, mà Tổ quốc thân thương của Người đã đau khổ quằn quại mấy chục năm ròng, cũng phần lớn vì cái đội chiến hạm thâm thù kia! Nay, chúng đã tự vùi sâu trong sóng biển! Thế thực dân, lực xâm lược nay đã giảm đi rất nhiều. Và, giả sử từng ấy hạm tàu ồ ạt chở quân sang ta một lần nữa!... Ôi, Đất nước thân yêu! Nhưng… , may thay, hầu hết các chiến hạm hung hãn kia, chúng đã tự huỷ ở đây rồi! ...
Ánh mắt Hồ Chủ tịch lóe lên như rực thêm niềm hy vọng đốt cháy mọi trở ngại, nung đúc một chiến lược kiên quyết và bền bỉ: “Thà mất tất cả, chứ không thể để mất Độc lập và Tự do!” Có thể nói đó là phút lịch sử khó quên của con người cách mạng, đứng trước cảnh tàn tạ của một cường quốc thực dân.
Cao uỷ Pháp trân trọng tiễn Hồ Chủ tịch bước lên chiếc thông báo hạm Dumont d’Urville. Một đội danh dự thuỷ binh tăm tắp bồng súng chào. Chiếc chiến hạm nhỏ này cũng có một quá khứ đáng lưu ý. Mười mấy năm trước đó, chính quyền bảo hộ cũng đã dùng chiếc tàu này để đưa Bảo Đại, ông vua bù nhìn trẻ tuổi cuối cùng của nhà Nguyễn, về nước. Và, sau này, chiến hạm này đã tan tành từng mảnh nơi cửa biển Sầm Sơn. Viên đại tá hạm trưởng, mấy năm sau được thăng Thuỷ sư đô đốc, trong cuốn hồi ký có viết về chuyến đi lịch sử này. Hắn cho biết, giữa tháng 9/1946, nhận được điện khẩn cấp và mật phải tức khắc chuẩn bị chiến hạm để đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa. Đi đâu, khi khởi hành sẽ nhận được mật lệnh khác. Hắn viết: “Lúc đó, chiến hạm đã chở đầy thuỷ quân, theo kế hoạch trở lại Đông Dương. Thế là phải cho bọn lính ấy đổ lên bờ, rắc rối quá! Chẳng rõ lần này có phải đưa một vị nguyên thủ quốc gia thuộc địa đi an trí không?”
Vì các tàu chiến thuỷ quân Pháp đã gần như quen với cái nhiệm vụ này rồi. Chúng đã đưa đi biệt xứ bao nhiêu thủ lĩnh chống Pháp, mà đi đày biệt xứ, rất hãn hữu mới được buông tha đưa về...
Nên, hắn hơi ngạc nhiên đôi chút khi được lệnh đưa Chủ tịch về nước. Là dòng dõi “thượng lưu quý tộc”, cha truyền con nối trong thuỷ quân, nói chung hắn tỏ ra nhã nhặn, nhưng cũng hết sức thực dân. Hắn tiếp đón Chủ tịch rất niềm nở và đã nhường chính buồng riêng của hạm trưởng để Chủ tịch nghỉ ngơi.
Nhưng, chiến hạm còn chưa phải là chiến hạm của Việt Nam ta, cho nên dù có Chủ tịch nước ta trên tàu, cờ hiệu vẫn là cờ tam tài - quốc kỳ Pháp. Chỉ khi rời cảng Toulon, hạm mới kéo quốc kỳ ta lên một lúc. Viên hạm trưởng giải thích: “Hiện nay, còn ít nơi biết đến cờ đỏ sao vàng, nên cứ kéo cờ Pháp cho tiện quan hệ quốc tế”.
Rẽ sóng ra khơi trở về nước. (Ảnh chỉ có tính minh họa)
Lại một loạt nghi thức “nước đôi và nửa vời”! Quả ta chưa đánh bại chúng, để có thể cờ đỏ sao vàng được toả khắp tung bay mọi chốn. Thật là một cuộc viễn du, lênh đênh từ tây sang đông, trên mấy biển cả, cập nhiều bến, nghỉ giữa khơi, hay trên những hòn đảo xa xôi. Mới lên tàu, Chủ tịch giao cho tôi nhiệm vụ thảo mấy bức điện cảm ơn Chính phủ Pháp, Chủ tịch Thượng nghị viện, Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại. Bác duyệt lại các bức điện và khen: “Ờ, cũng được đấy” và bảo phải chuyển đưa hạm trưởng ngay, để đánh điện tức khắc, trước khi rời quân cảng...
(Còn nữa)