Ai Cập, mảnh đất huyền thoại Bác Hồ ghé qua. (Ảnh tư liêu)
(DVT.vn) - Đoạn văn hiếm có miêu tả tỉ mỉ chuyến tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước năm 1946, trên một chiến hạm Pháp, qua Ai Cập, kênh Suez, Hồng Hải...
Chiến hạm Dumont d'Urville lặng lẽ rời bờ đi vào Địa Trung Hải...
Cuộc sống hằng ngày được tổ chức ngăn nắp, trật tự ngay từ ngày đầu. Bác đặt tên mới cho anh Phạm Quang Lễ là Trần Đại Nghĩa. Bác nói vui: “Chúng ta rồi sẽ trần như nhộng cả; chú mang họ Trần cũng phải thôi! Chúng ta về là vì đại nghĩa, nên chú mang tên Đại Nghĩa là hợp lý”.
Anh Nghĩa còn có gia đình ở miền nam. Bác muốn anh thay tên đổi họ để tránh liên luỵ cho gia đình, họ hàng ở trong đó.
Chúng tôi hằng ngày được dự một lớp “chính trị đặc biệt”. Bác giảng rất súc tích, sinh động và cách mạng, về tình hình thế giới, về thời cuộc Việt Nam, thật rõ ràng, giản dị và cảm động. Qua lời Hồ Chí Minh hôm nay dường như còn âm vang giọng nói hăng say của Nguyễn Ái Quốc ngày nào phát biểu tại Câu lạc bộ Ngoại ô (Club de Faubourg) ở Paris, hun đốt lên ngọn lửa yêu nước trong lòng những người con lâu ngày xa quê hương, nay hai, ba người tình nguyện theo Bác trở về xứ sở...
Đặc biệt, anh Nghĩa, suốt chuyến đi, khi Bác gợi phát biểu ý kiến, anh chỉ cười hiền hậu, giương hai mắt kính lên và thưa một câu ngắn ngủi: “Đúng quá, thưa Bác, còn phát biểu chi!”. Và sáng nào anh cũng gội đầu dưới vòi nước lạnh để luyện tâp nhưng chỉ nói là để cho mát...
Cứ 5 giờ chiều, chúng tôi lại tụ tập ở phòng khách, uống trà, ăn bánh ngọt, và nghe Bác bình luận thời sự, sau khi đọc bản tin, có những buổi rất sôi nổi, nhưng cũng có những phút lại lặng yên.
Biển Địa Trung Hải xanh thẫm, chỉ lăn tăn gợn sóng. Chiến hạm như một chiếc du thuyền lướt nhẹ trên sóng lẹ làng lấp lánh, để lại một vệt ánh trăng khuya, lan rộng dần, rồi tan lặn. Nếu chẳng phải mang nặng mối tư lự của vị lão thành cách mạng, cùng những nỗi riêng tư của mấy người trở về nước, thì có lẽ chuyến đi đã trở thành một cuộc ngao du diệu kỳ hiếm có.
Kim tự tháp và những chú lạc đà trên sa mạc cát bỏng.
Là thầy thuốc riêng của Chủ tịch nước, nên tôi thường ngồi bên tay trái, sát Người. Khi ăn, quả thật người Pháp hay và giỏi chuyện, nhất là vào những bữa cơm, bao giờ cũng có vang trắng, vang đỏ. Chủ tịch thường nghe nhiều, thỉnh thoảng mới nói hay trả lời. Viên hạm trưởng ngồi đối diện. Chủ tịch luôn luôn mào chuyện để bàn ăn được nhộn nhịp, không bị không khí trầm lắng trùm lên.
Một bức ảnh vô cùng quý hiếm còn sót lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Ai Cập năm 1946.
Tàu cập bến, chúng tôi lên thăm mấy cảng lớn ở Địa Trung Hải. Khi đến Ai Cập, tới Port Said nổi tiếng, thì đã 3 giờ sáng, nhưng Chủ tịch vẫn chưa ngủ, Người quyết định lên thăm thành phố, đặc biệt là thăm khu lao động. Phải tổ chức bảo vệ thật sát, vì dân ở đây phần lớn là dân tứ chiếng, côn đồ không ít; tôi đi sát bên Bác, phía trước viên hạm trưởng, chung quanh có binh lính tuỳ tùng mang theo vũ khí. Quả ở đây, một nơi ô hợp, hỗn độn, không trông thấy một bóng cảnh sát nào, mà đầy những tên không có quốc tịch, đầu trâu mặt ngựa. Phải vô cùng chú ý!
Cảng Said ở Ai Cập.
Cũng chỉ ngửi thấy những mùi hỗn tạp, mùi hương trầm, mùi mồ hôi, da thuộc, chả ướp, lẫn lộn bao nhiêu mùi gia vị khác, đặc điểm của các phố đầy quầy hàng lụp xụp, như những chợ con nghèo tẻ ở Trung Cận Đông hồi đó. Viên hạm trưởng đề nghị Đoàn quay trở về tàu. Chủ tịch đồng ý trước vẻ lo ngại của hắn.
Hôm sau, vào bữa cơm trưa, hắn kể lại là tối hôm trước - tức sáng hôm đó thì đúng hơn - một nhóm ba thuỷ thủ của hạm, đang chăm chú mua mấy cái roi da màu sắc Ả Rập, thì một bọn bán rong bất ngờ quay lại, như gạ bán các thứ roi đặc biệt, bỗng cùng một lúc, từ cán roi, chúng rút ra những mũi dao nhọn hoắt chĩa vào ngực các thuỷ thủ, bắt nộp tất cả các ví tiền!
Không còn kêu vào đâu được ở chốn hang cùng ngõ hẻm này, mà còn ùn kéo đến một lũ người không rõ quốc tịch gì, nên thế cô, cả ba thuỷ thủ đó mất hết tiền! Thoát chết là may !
Sau đó, chiến hạm đi Port Fouad đến một dải đất thật đặc biệt, trước khi vào Hồng Hải. Trời bình minh, Bác bảo nên dừng tàu, đợi mặt trời ló lên ở vùng này. Đặc điểm của vùng tam giác đó là đứng ở đây, có thể trông ra ba mặt: Ngoảnh sang đông, thấy châu Á, nhìn sang nam thấy châu Phi, và ngoái cổ lại, nhìn về phía chân trời phía tây, thì thấy châu Âu.
Kênh đào Suez nối Địa Trung Hải với Hồng Hải.
Mặt trời nhô lên nhanh, đỏ rực. Bác quay nhìn mọi phía, phóng tầm mắt khắp nơi, đăm chiêu một lúc, rồi cương quyết rời bước ra đi, như chắc chẳng bao giờ còn quay trở lại vùng này!
Kênh Suez vẫn như xưa, tàu phải đi rất chậm để tránh bờ cát lở. Qua một cái hồ lớn, rồi đi vào Hồng Hải. Thật như qua một biển lửa, nóng như thiêu!
Chủ tịch thấy tôi mua hai bộ quần áo trắng ở Port Said, khẽ mỉm cười, bảo:
- Rồi sẽ mất hết !
- Vâng, chắc chắn là mất hết! Nhưng, thưa Bác, nóng quá, không thể nào bận quần áo len dạ được nữa !
Thật đã trải qua những đêm trằn trọc vì nóng rất khô. Tuy có gió nhưng từ sa mạc thổi đến, có lúc như phả lửa, bụi vào khắp hạm. Chỉ vào lúc chiều tà, mới dịu đi đôi chút. Đứng tựa mạn tàu đợi gió, đêm sao xa vời ở chân trời đỏ rực, thi thoảng có đàn lạc đà đủng đỉnh đi, như ảo hình di chuyển trên đèn chiếu, lần bước ở chân trời mênh mông đang xám sẫm trong đêm bao la phủ xuống...
Có những đêm trên Hồng Hải, mãi 1, 2 giờ sáng, Bác chỉ mặc một chiếc quần đùi mỏng, còn nói chuyện riêng, chung. Quên sao được những phút giây ấy, trong đêm khuya lênh đênh trên biển nóng, những lời nói chí tình của Bác như gợi bao nhiêu phiêu lưu của cuộc đời, trên sóng nước mà như còn phảng phất âm hồn ngang dọc đó đây, quấy trời chọc nước, của De Monfred, Henri.
Ở chân trời mờ ảo, lại hiện lên lác đác vài bóng lạc đà vẽ những cảnh xa vời bát ngát, giữa cát xám chập chùng...
Đến Djibouti, cảnh và người sặc mùi thuộc địa - thuộc địa chung và riêng ở xứ nóng châu Phi. Viên Toàn quyền tiếp đón Đoàn như thượng khách, nhưng không có nghi thức nào dành cho một Nguyên thủ Quốc gia. Cũng đại tiệc với tiểu tiệc như thường lệ. Trong một bữa tiệc lớn, viên Tổng lãnh sự Anh quá ngạc nhiên khi nhìn thấy người thầy thuốc riêng của Chủ tịch Việt Nam cao lớn, chỉnh tề, mang kính cận "đại trí thức". Hắn hỏi:
- Gia đình bác sĩ làm nghề gì ?
Để trả lời câu hỏi xoi mói đó, và theo kiểu cách phớt tỉnh của người Anh, tôi liền đáp rất lạnh nhạt, thản nhiên:
- Đại, đại địa chủ.
Bác lắng nghe, hơi động đậy chòm râu, tỏ vẻ tán thưởng. Quả chúng không sao hiểu nổi, yêu nước đâu nhất thiết phải là vô sản, mà trí thức được giác ngộ, lại càng say sưa vì Tổ quốc.
Bóng lạc đà buổi chiều tà trên sa mạc.
Viên Tổng lãnh sự này sau đó luôn bám sát tôi. Sau bữa tiệc thịnh soạn, hắn liền sán đến ngồi cạnh tôi, uống cà- phê, rượu mạnh, hút thuốc lá. Mỗi lúc cốc Wishky hơi cạn, hắn lại đưa tay ra hiệu cho người phục vụ rót đầy. Bác ngồi bàn bên, nhìn qua tình thế ấy, liền đứng dậy đi qua các bàn, rồi ghé đến bên cạnh tôi, khẽ hỏi:
- Chú có uống được không ?
Lúc đó tôi đang sung sức, mới hơn 30 tuổi, lại gần 20 năm sống ở châu Âu, còn lạ gì mánh khoé của bọn chúng. Hơn nữa, bản năng tự vệ được rèn luyện, nên tôi chưa bao giờ say, hay nói đúng hơn là chưa bao giờ để cho mình say. Uống rượu mạnh, tôi lại càng lì lợm, chỉ ngồi rít xì- gà hảo hạng, mặc cho viên đại diện Anh tha hồ ba hoa, và cuối cùng, hắn ta lảo đảo say mềm!...
Thỉnh thoảng Bác đưa mắt nhìn sang, theo dõi và tỏ vẻ yên tâm. Tiệc tùng như vậy, không phải bao giờ cũng ngon miệng, tuy nhiều lúc có những món ăn rất sang.
(Còn nữa)