Tín dụng có thể tăng đến 22%

Chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa cho rằng dư địa để giảm lãi suất và tăng trường tín dụng của nước ta vẫn còn nhưng không nhiều.

Chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa cho rằng dư địa để giảm lãi suất và nâng cao trường tín dụng của nước ta vẫn còn nhưng không nhiều.

Trong cuộc họp Túc trực Chính phủ diễn ra vào cuối tuần trước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đề xuất Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mang kế hoạch, lịch trình để bảo đảm tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 21-22%. Thủ tướng nhấn mạnh nâng cao trưởng tín dụng là kênh vô cùng quan yếu góp phần không nhỏ để đạt được mục đích tăng trưởng kinh tế 6,7% trong năm nay.

Vừa qua nhất, Thủ tướng tiếp tục đề nghị Thống đốc điều hành linh hoạt, hiệu quả những dụng cụ của chính sách tiền tệ kết hợp có chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; đảm bảo tăng trưởng tín dụng trên 20% gắn có đảm bảo chất lượng tín dụng; tìm mọi cách tiếp tục giảm lãi suất cho vay để tháo gỡ cạnh tranh cho đơn vị; hội tụ tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên.

Bên cạnh đó, mang quan điểm băng khoăn là liệu định hướng đưa tín dụng lên trên mức 20% là với khả thi? Chuyên gia kinh tế, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển buôn bán, nguyên Phó Chủ toạ Ủy ban Giám sát tài chính nhà nước đã đưa ra những nhận định về vấn đề này.

“Tăng trưởng tín dụng trên mức 20% là với thể đạt được, do những điều kiện kinh tế vĩ mô đang tương đối tiện lợi để NHNN với thể xem xét tới việc nâng cao cung tiền tệ và trên cơ sở đấy giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay”, TS. Lê Xuân Nghĩa khẳng định.

Cụ thể, lạm phát cơ bản trong 3 năm liên tục đang ở mức tương đối phải chăng, dưới 2%; lãi suất trái khoán Chính phủ cũng đang ở mức phải chăng khoảng 5%, lãi suất trần ngắn hạn tiền gửi cũng phải chăng…

Bên cạnh đó, theo ông Nghĩa 1 điều siêu quan yếu nên nên tính toán, coi xét ấy là liệu DN, nền kinh tế với khả năng thu nạp nguồn tín vốn tín dụng được mở mang hay không?

Ông cho rằng, việc những DN, nhất là những DN vừa và nhỏ trong nền kinh tế sẽ với cơ hội tiếp cận và khả năng thu nhận rẻ phụ thuộc vào lãi suất, trường hợp lãi suất cao thì các DN khó có thể tiếp thụ được nguồn vốn tín dụng đấy.

“Bởi lẽ trong bối cảnh lãi suất đang cao, ví như mở mang tín dụng thì nguồn lực này sẽ chảy vào những lĩnh vực ko kể mong muốn như bất động sản, chứng khoán, các ngành với chừng độ rủi ro tương đối cao. Trong lúc, nếu lãi suất giảm xuống thì tăng trưởng tín dụng này sẽ vào được các lĩnh vực sinh sản kinh doanh, đặc trưng những ngành công nghiệp chế biến, chế tạo”, TS. Lê Xuân Nghĩa phân tách.

Vị chuyên gia cũng dẫn ra hai khả năng khi đưa chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng lên trên 20%. Trường hợp nền kinh tế thu nạp thấp, đúng hướng, trong điều kiện lãi suất khá phải chăng có thể tạo nên hiệu ứng nâng cao cầu, góp phần nâng cao trưởng GDP. Còn nếu ko giảm lãi suất mà đẩy tăng trưởng tín dụng lên cao như vậy thì chưa chắc đã tạo bắt buộc được tác dụng nâng cao tổng cầu an toàn và có thể dẫn đến lạm phát cao hơn trong các năm tiếp theo. “NHNN cần cân kể, tính toán thận trọng”, ông Nghĩa nhận định.

Nhìn rộng hơn ra thế giới, vị chuyên gia cho biết xu thế nới lỏng tiền tệ toàn cầu vẫn đang là xu thế chính chứ ko phải thực hành chính sách tiền tệ thắt chặt. “Có thể thấy dư địa để giảm lãi suất và tăng trường tín dụng của nước ta vẫn còn nhưng ko phổ biến và cũng chẳng thể ‘thẳng cánh’ trong nới lỏng tín dụng mà buộc phải vô cùng cẩn trọng”, ông Nghĩa nhận xét.

Ông cũng cho biết, thực tại, mặt bằng lãi suất của Việt Nam vẫn ở mức cao, đề cập cả khi so có Trung Quốc và những nước ASEAN… khiến cho tăng gánh nặng phí tài chính của DN lên hơi lớn. Trong bối cảnh các DN Việt Nam làm cho việc phần lớn bằng vốn đi vay, tỉ lệ đòn bẩy tài chính cao, trong 100 tỷ thì vốn tự với chỉ khoảng 10-20 tỷ, còn lại là vốn vay, dẫn tới phí tài chính trong mức giá sản phẩm còn cực kỳ to. Mang DN đạt doanh thu năm khoảng 150 tỷ thì lãi vay nhà băng đã lên tới 5-6 tỷ, vượt cả phi tổn phí về trích lập khấu hao, “đấy là điều mà chỉ làm DN mới hiểu được sức ép của lãi suất nhà băng lớn đến như thế nào”, ông san sớt.

Đặc biệt, những DN trong ngành chế biến, chế tạo thường xuyên nhập khẩu nguyên nguyên liệu bắt buộc vốn lưu động rất lớn. Như trong ngành bao bì, ví thử doanh thu 100 tỷ thì riêng tiền nguyên phụ liệu đã chiếm đến 75-80%, hầu hết chi phí này buộc phải đi vay ngân hàng làm vốn lưu động. Cho dù nâng cao vòng quay vốn như thế nào thì phí tổn trả lãi vay nhà băng trong tổng chi phí vẫn siêu lớn tạo cần áp lực, tránh năng lực cạnh tranh của DN.

“Điều kiện quan yếu là lãi suất cần giảm để nâng khả năng kết nạp vốn của nền kinh tế và nâng cao được sức cạnh tranh của DN”, TS. Lê Xuân Nghĩa khẳng định.

Nguồn: CafeF

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here