Đại gia mắc kẹt với con đẻ tài chính

Tồn tại không xong, thoái vốn không được là tình cảnh hiện nay của các công ty tài chính – con đẻ của một loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Công ty tài chính Viettel – Vinaconex có nguy cơ mắc kẹt hàng trăm tỷ đồng tại
dự án Trung tâm thương mại chợ Mơ. Ảnh: Tuệ Nhật

Cách đây 6-7 năm, theo phong trào, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước như: Dầu khí, Dệt may, Hóa chất, Điện lực, Tàu thủy, Handico, Sông Đà, Xi măng, Viettel, Vinaconex, VNPT… đã ồ ạt bỏ vốn thành lập công ty tài chính. Giờ lợi nhuận đâu không thấy, chỉ thấy thực trạng kinh doanh bết bát và tương lai mù mịt của những công ty tài chính này.

Nợ xấu

Khỏi phải đề cập đến con số nợ xấu tại Công ty Tài chính Tàu thủy, bởi tập đoàn mẹ và các công ty thành viên đang ngập chìm trong nợ nần. Bản thân công ty này và Công ty Cho thuê tài chính Tàu thủy hiện đang là con nợ số 1 của một loạt công ty tài chính và ngân hàng.

Một doanh nghiệp vốn được coi là có bảng cân đối tài sản tương đối sạch như Công ty Tài chính Viettel – Vinaconex (VVF) báo cáo tỷ lệ nợ xấu là 4,34% trong năm 2012 (năm 2013 doanh nghiệp chưa công bố báo cáo tài chính, song dự kiến tình hình không sáng sủa hơn), tương ứng với gần 100 tỷ đồng. Năm 2012 là thời điểm lãi suất cho vay lên tới 20%/năm, có trong tay 1.000 tỷ đồng vốn góp của các cổ đông, nhưng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp chỉ đạt 112 tỷ đồng, không bằng gửi tiền tiết kiệm. Nhưng đó chỉ là bề nổi, phân tích chất lượng tín dụng của VVF mới thấy có điểm đáng quan ngại. Công ty có nhiều khoản cho vay tới vài trăm tỷ đồng khó đòi, dù chưa được xếp vào dạng nợ xấu.

Công ty Tài chính Sông Đà cũng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ gốc và lãi khoản trái phiếu 561 tỷ đồng, trong đó các con nợ lớn nhất là Công ty cổ phần Sông Đà Thăng Long – doanh nghiệp bất động sản đang gặp nhiều khó khăn, Sudico, Xi măng Hạ Long, Xi măng Việt Lào. Kiểm toán đã cảnh báo, số dư khoản nợ phải thu từ Công ty cổ phần Sông Đà Thăng Long có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động của Công ty Tài chính Sông Đà.

Còn Công ty Tài chính Xi măng thì phải cáng đáng thêm ngành khai thác và cho thuê tàu biển vì xiết nợ tài sản đảm bảo. Dẫu vậy, với các khoản nợ của Công ty Tài chính Tàu thủy và Công ty Cho thuê tài chính Tàu thủy, doanh nghiệp này không có cách nào thu được và đang phải cầu viện Tòa án kinh tế quận Hoàn Kiếm và Cầu Giấy (Hà Nội).

Một vấn đề khá nghiêm trọng khác là các công ty tài chính thường định giá tài sản đảm bảo quá cao so với thị giá hoặc theo quy định. Đơn cử, kiểm toán lưu ý Công ty Tài chính Sông Đà: tỷ lệ chiết khấu tài sản đảm bảo của khoản nợ khi thực hiện trích lập dự phòng rủi ro được áp dụng theo đánh giá của công ty. Đánh giá này có sự khác biệt so với quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Trước đó, Tổng công ty Tài chính Dầu khí cũng bị kiểm toán lưu ý về khoản mục này với tài sản đảm bảo là tàu biển khi thực hiện cho vay doanh nghiệp họ Vinashin và Vinalines (ngoài ra các khoản cho vay lên tới cả nghìn tỷ đồng này không được xếp vào nợ xấu, mặc dù quá hạn 2-3 năm).

Vì sao nên nỗi?

Tại sao nợ xấu tại các công ty tài chính là con đẻ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lại trầm trọng đến vậy? Nguyên nhân được lý giải là do các công ty này chủ yếu cho vay “cánh hẩu”, khách hàng đa phần là công ty con của cổ đông và người có liên quan. Ví dụ, khách hàng của VVF chủ yếu là các đơn vị thành viên của Tổng công ty Vinaconex, Tập đoàn Viettel và các đơn vị thành viên; hoặc cho vay liên ngân hàng. Hoạt động yếu kém của nhiều doanh nghiệp nhà nước, nhất là họ doanh nghiệp họ tàu thủy, hàng hải, xây lắp, bất động sản đã dẫn đến tình trạng này. Việc cho vay cánh hẩu, chủ yếu dựa trên tín chấp hoặc tài sản đảm bảo kém chất lượng, không chú trọng yếu tố rủi ro đã dẫn đến hệ quả nợ khó đòi. Phó Tổng giám đốc một công ty kiểm toán cho biết, hệ thống quản trị rủi ro của các công ty tài chính này cực kỳ yếu kém, thậm chí là không có.

Nhiều biện pháp mạnh nhằm thu hồi nợ đã được các công ty tài chính áp dụng, nhưng kết quả thu được rất khiêm tốn. Một lãnh đạo của VVF cho biết, công ty này đã áp dụng nhiều biện pháp từ tác động đến các lãnh đạo của Tổng công ty Vinaconex để đề nghị hỗ trợ thu hồi nợ của các đơn vị thành viên đến dọa nếu không thanh toán nợ đúng hạn cam kết sẽ phong tỏa tài khoản, phát công văn thông báo tình trạng nợ quá hạn cho các tổ chức tín dụng trên thị trường để nhờ NHNN can thiệp, khởi kiện tại Tòa án kinh tế…

Song theo lời của vị lãnh đạo trên, với diễn biến khó khăn hơn từ đầu năm 2013, kết quả thu được rất thấp. Còn Công ty Tài chính Xi măng thì tính chuyện đề nghị Tòa án Nhân dân quận Hoàn Kiếm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, phong tỏa khoản tiền gửi của Công ty Tài chính Tàu thủy tại Ngân hàng Vietcombank để thanh toán công nợ, thậm chí khởi kiện các con nợ ra tòa kinh tế, nhưng nợ vẫn hoàn nợ.

Phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng nhưng chất lượng các khoản cho vay không đảm bảo, do đó lợi nhuận của khối công ty tài chính này không bền vững và ẩn chứa nhiều rủi ro. Phân tích trường hợp của VVF có thể thấy, năm 2011, công ty có lợi nhuận cao nhất trong những năm đã hoạt động nhưng là nhờ cho vay liên ngân hàng, đồng thời cho vay doanh nghiệp lãi suất cao, tới 20%/năm. Hệ quả là hiện nay những khoản cho vay với lãi suất “cắt cổ” đó đều khó thu hồi, có nguy cơ trở thành nợ xấu.

Tại Công ty Tài chính Sông Đà, năm 2012, lợi nhuận trước thuế chỉ đạt vỏn vẹn 900 triệu đồng, trong khi vốn cổ đông bỏ ra là 500 tỷ đồng. Theo một nguồn tin từ Tổng công ty Sông Đà, năm 2013 kết quả kinh doanh của doanh nghiệp này còn tệ hơn.

Suy kiệt sức cạnh tranh

Các công ty tài chính hiện đang bị kẹt đầu vào từ mọi hướng. Thứ nhất, huy động vốn trên thị trường 1 (các doanh nghiệp) là khó khăn vì hiện các doanh nghiệp không có nhiều nguồn tiền nhàn rỗi. Trong khi đó, các ngân hàng hiện đưa ra hàng loạt ưu đãi hấp dẫn về cho vay, thanh toán, dịch vụ khác đi kèm để cạnh tranh thu hút đầu vào. Thị trường 2 vốn chiếm tới 70 – 80% vốn đầu vào của các công ty tài chính lại càng khó khăn hơn. Cụ thể, từ năm 2011, NHNN áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ khiến các tổ chức tín dụng thu hẹp hoạt động cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Đặc biệt, từ khi NHNN ban hành Thông tư 21/2012/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay, đi vay, mua bán kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng thì việc huy động vốn từ các tổ chức này càng gặp nhiều khó khăn. Để cạnh tranh, các công ty tài chính buộc phải đẩy chi phí huy động vốn lên cao.

Đầu ra của các công ty tài chính hiện nay còn khó hơn đầu vào. Cạnh tranh thu hút khách hàng có chất lượng giữa các ngân hàng đang ngày càng quyết liệt. Bấy lâu nay phụ thuộc chủ yếu vào “người nhà”, việc “ra gió” với các công ty tài chính không dễ, đó là chưa kể khách hàng hiện nay thường chọn sử dụng cả gói dịch vụ chứ không chỉ sử dụng mỗi dịch vụ vay vốn. Ứ vốn giá cao và không dám cho vay ra do lo ngại nợ xấu đang khiến nhiều công ty tài chính phải bỏ vốn ra để trả lãi suất đầu vào.

Ngay hoạt động bảo lãnh vốn được kỳ vọng là lợi thế của các công ty tài chính thuộc ngành xây dựng cũng không đạt kết quả như mong muốn. Nguyên do là chủ đầu tư thường không chấp nhận bảo lãnh của công ty tài chính mà yêu cầu phải của các ngân hàng. Mặt khác, hoạt động bảo lãnh thường gắn liền với hoạt động cấp tín dụng, trong khi dư nợ tín dụng của các công ty tài chính èo uột nên hoạt động bảo lãnh tín dụng cũng không mấy khả quan.

Việc bắt tay với các nhà phân phối để triển khai tín dụng tiêu dùng giờ khó khăn hơn vì hiện các ngân hàng cũng “xuống đường” lượm bạc lẻ. Các dịch vụ của ngân hàng đầu tư như: tư vấn M&A, tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp… thì các công ty tài chính càng yếu kém, bởi những lĩnh vực này cần chuyên gia giỏi. “Cơ chế hoạt động cho các công ty tài chính hiện nay rất khó khăn, Chính phủ và NHNN đang có những chính sách không có lợi cho sự phát triển của các công ty tài chính như: giới hạn và giảm dần tỷ lệ góp vốn của các tập đoàn, tổng công ty tại các công ty tài chính, làm giảm vai trò của công ty tài chính trong tập đoàn, tổng công ty”, một lãnh đạo của Công ty Tài chính Sông Đà cho biết.

Lối thoát nào?

Thoái vốn khỏi công ty tài chính là yêu cầu bắt buộc đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Tuy nhiên đây là bài toán không dễ thực hiện. Điển hình là Công ty Tài chính Tàu thủy thì theo lời ông Nguyễn Ngọc Sự, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy, không thể bán được doanh nghiệp chỉ còn cách để Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) vào cuộc xử lý.

Tìm đối tác cho nhóm các công ty tài chính “còn thóc, còn gạo” như VVF cũng không đơn giản. Một cán bộ của Tổng công ty Vinaconex cho biết, cả 2 cổ đông lớn của VVF là Viettel và Vinaconex đều đặt mục tiêu thoái vốn khỏi công ty tài chính, song hơn 1 năm qua chưa tìm được giải pháp. Trước hết, liệu có khả năng có nhà đầu tư nào mua lại phần vốn góp của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tại các công ty tài chính rồi sau đó xin chuyển giấy phép thành ngân hàng thương mại? Giám đốc tư vấn một công ty chứng khoán lớn phân tích, bài toán này không dễ giải quyết, vì tỷ lệ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tại các công ty tài chính tương đối lớn. Theo quy định của NHNN, một pháp nhân không được sở hữu quá 15% vốn tại một ngân hàng. Như vậy, nếu chuyển đổi công ty tài chính thành ngân hàng thương mại, giả sử phần vốn góp trên được bán cho một nhà đầu tư thì ngay lập tức họ phải tăng vốn cho tổ chức tín dụng để hạ tỷ lệ sở hữu, hoặc phải liên kết với các nhà đầu tư khác.

“Đàm phán bán cổ phần cho một nhà đầu tư đã khó, bán cho một nhóm nhà đầu tư càng khó hơn”, chuyên gia tư vấn này nói.

Giải pháp thứ hai khả thi hơn là sáp nhập công ty tài chính vào ngân hàng thương mại, tương tự trường hợp của Tổng công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) và Ngân hàng Western Bank. Ngoại trừ PVFC có tiềm lực tài chính mạnh, vốn điều lệ lớn (6.000 tỷ đồng) nên có khả năng chuyển đổi hoạt động thành ngân hàng thương mại, các công ty tài chính khác đều có mức vốn nhỏ (500 – 1.000 tỷ đồng), vì thế khả năng “biến mất” sau sáp nhập là chắc chắn. Nhưng theo vị giám đốc tư vấn nói trên, để bán được vốn của công ty tài chính, thì tình hình tài chính của công ty phải “tương đối lành mạnh”. Mà xét kỹ thì rất ít công ty tài chính thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đáp ứng được tiêu chí này.

Với thực trạng hoạt động như hiện nay, nếu không có một sự chuyển đổi, các công ty tài chính sẽ chết dần và mất dần vốn tự có. Khi ấy nhiều cổ đông sẽ chết chìm theo các công ty tài chính, đồng nghĩa với việc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có khả năng mất hàng nghìn tỷ đồng tiền vốn.

Mai Phong

Doanh Nhân Online Chuyên trang của báo Diễn đàn Doanh nghiệp

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here