Bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động tới thị trường chứng khoán Việt Nam

Như nhiều nhà đầu tư, tôi cũng mong chờ năm 2021 với nhiều yếu tố tích cực sẽ tiếp tục hỗ trợ thị trường. Nền tảng kinh tế, chính trị ổn định, cùng với đó là kỳ vọng về tốc độ tăng trưởng hồi phục mạnh, các doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi sẽ củng cố cho niềm tin về xu hướng tích cực.

Năm 2021, thị trường vẫn sẽ có môi trường thuận lợi để tăng trưởng

Đại hội Đảng lần thứ XIII diễn ra thành công, mở đầu cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2026; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm của giai đoạn 2021-2030 cũng như là tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045.

Với bộ máy nhân sự mới, nền kinh tế được kỳ vọng có một môi trường mới và ổn định để phát triển. Thêm vào đó, sự thành công của Đại hội Đảng cũng tạo tiền đề cho những chính sách mới trong sự phát triển của nền kinh tế cũng như ảnh hưởng tích cực tới xu hướng của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chính phủ tiếp tục quan tâm tới thúc đẩy tăng trưởng, tiếp tục duy trì các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Trong năm 2020, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp, chính sách quan trọng về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Trong năm 2021, một số chính sách vẫn còn hiệu lực cùng với một số chính sách mới đang được đề xuất sẽ tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

Tăng trưởng GDP sẽ bật mạnh trở lại từ nền thấp 2020. Nhờ việc kiểm soát dịch bệnh tốt, vaccine bắt đầu được đưa vào sử dụng và có phát huy hiệu quả, các hoạt động kinh tế xã hội có thể trở lại bình thường. Tăng trưởng GDP của Việt Nam được dự báo sẽ bật tăng mạnh trở lại (theo BVSC GDP 2021 sẽ tăng trưởng quanh mức 7%) từ nền thấp của năm 2020.

Về xuất khẩu, với tình hình dịch bệnh Covid-19 thoái lui và kinh tế các nước Mỹ, EU khởi sắc trở lại, xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của VN như dệt may, da giày, thủy sản… được kỳ vọng sẽ lấy lại được mức tăng trưởng dương trong năm 2021.Về phía cung, sự hồi phục sẽ đến chủ yếu từ khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ. Về phía cầu, sự cải thiện sẽ đến từ cầu tiêu dùng nội địa, vốn đầu tư và xuất khẩu.

Đối với cầu tiêu dùng, doanh số bán lẻ có thể sẽ tăng quanh mức 10% với sự dẫn dắt của bán lẻ hàng hóa. Điều này dựa trên cơ sở dịch bệnh được kiểm soát và thị trường lao động dần hồi phục (tỷ lệ thất nghiệp đã bắt đầu giảm trong khi thu nhập bình quân của người lao động cũng đã tăng trở lại từ Q3/2020). Thu nhập được đảm bảo và không còn những đợt giãn cách lớn trên quy mô toàn quốc là điều kiện cần để cầu tiêu dùng tăng trở lại.

Bên cạnh đó, vốn đầu tư toàn xã hội nhiều khả năng cũng sẽ phục hồi với mức tăng 8-10% nhờ đầu tư công được duy trì, vốn đầu tư tư nhân bật tăng mạnh và vốn FDI tăng. Đầu tư công sẽ tiếp tục được đẩy mạnh giải ngân.

Theo báo cáo của Chính phủ, tổng số vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2021 dự kiến là 477.300 tỷ đồng, tăng 1,4% so với kế hoạch của năm 2020 và 2,2% so với con số thực hiện trong năm 2020. Đây là lượng giải ngân tương đối lớn trong bối cảnh kinh tế trong nước cũng như quốc tế vẫn đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 trong giai đoạn cuối năm 2020 và 2021.

Tuy nhiên, với việc tiêm chủng vaccine đang được thúc đẩy triển khai, nền kinh tế được kỳ vọng sớm phục hồi, mục tiêu trên của Chính phủ được đánh giá là khả quan trong năm 2021. Môi trường lãi suất thấp được dự báo sẽ vẫn được duy trì trong năm 2021. Có hai lý do để tin tưởng vào xu hướng trên.

Thứ nhất, tăng trưởng GDP các nước tuy đã hồi phục nhanh trong Q3/2020 nhưng đà hồi phục chưa vững chắc, nhất là trong bối cảnh làn sóng thứ 2 của Covid-19 khiến Mỹ và nhiều nước châu Âu phải hạn chế các hoạt động kinh tế trở lại trong Q4. Một khi đà hồi phục kinh tế còn nhiều bất định, các NHTW sẽ chưa thể "mạo hiểm" rút lại các gói kích thích kinh tế, cụ thể là tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng.

Thứ hai, lạm phát của các nền kinh tế lớn hiện cũng còn cách rất xa mục tiêu 2%, do vậy chưa tạo áp lực phải thắt chặt tiền tệ. Tại Việt Nam, dư địa để cắt giảm thêm lãi suất huy động dài hạn vẫn còn nhưng không nhiều (dưới 0,5%) và sẽ phụ thuộc rất lớn vào diễn biến của tăng trưởng tín dụng trong năm 2021.

Ngoài ra, việc NHNN thực hiện lộ trình giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 40% về 37% vào đầu quý IV/2021 cũng sẽ khiến lãi suất kỳ hạn dài khó giảm thêm trong nửa cuối năm 2021. Kỳ vọng sự trở lại của dòng vốn ngoại vào các thị trường mới nổi (EM) trong đó có thị trường Việt Nam.

Trong làn sóng dịch chuyển của dòng vốn ngoại vào thị trường EM, Việt Nam – một nền kinh tế mới nổi được dự báo sẽ trở thành điểm sáng thu hút sự quan tâm của dòng tiền ngoại trong năm 2021. Kỳ vọng này không chỉ đến từ nền tảng vĩ mô ổn định, triển vọng tăng trưởng trung - dài hạn tích cực mà còn đến từ mức định giá hấp dẫn của thị trường Việt Nam.

Mặc dù mức P/E hiện tại của VN-Index đã vượt lên trên mức P/E trung bình trượt 5 năm của chính chỉ số này nhưng nếu so với các thị trường khác trong khu vực thì hệ số P/E của VN-Index hiện đang được giao dịch ở mức thấp hơn.

Bên cạnh đó, Việt Nam nhiều khả năng sẽ thu hút được thêm dòng vốn ngoại vào thị trường để đón đầu xu thế nâng hạng TTCK Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi. Hiện tại Việt Nam đã thỏa mãn được 7 trên 9 điều kiện tiên quyết mà FTSE Russell đề ra để có thể được nâng hạng lên thị trường mới nổi hạng hai và đã nằm trong danh sách theo dõi nâng hạng này được 2 năm.

Tiêu chí duy nhất chưa đạt là về thanh toán (Clearing&Settlement) T+2/T+3 chỉ ở mức hạn chế (Restricted). Tuy nhiên, với việc Luật chứng khoán mới có hiệu lực từ năm 2021 thì có thể kỳ vọng Việt Nam sẽ sớm được tổ chức FTSE Russell đánh giá nâng hạng vào năm 2022.

Trong kịch bản Việt Nam được FTSE nâng hạng lên TT mới nổi loại hai, TTCK Việt Nam dự kiến sẽ thu hút thêm được dòng vốn lớn từ các quỹ đầu tư trên thế giới. Theo ước tính của BVSC, giá trị mua vào của các quỹ khi thị trường Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi hàng hai của FTSE có thể đạt tới 1,4 tỷ USD. Và bên cạnh đó, cũng không thể không đề cập đến tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết dự báo sẽ có sự hồi phục mạnh mẽ từ nền thấp của năm 2020.

Chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên sàn bị gián đoạn và gặp nhiều khó khăn, qua đó khiến cho lợi nhuận của doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề chịu mức tăng trưởng âm trong năm 2020. Tuy nhiên, triển vọng lợi nhuận của các doanh nghiệp trong năm 2021 lại được dự báo sẽ có sự hồi phục mạnh trở lại nhờ các gói kích thích tăng trưởng (đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…), môi trường lãi suất thấp, nền kinh tế hồi phục khi dịch Covid-19 được kiểm soát cùng sự ra đời của vaccine…

Các ngành ảnh hưởng trực tiếp bởi Covid-19 như bán lẻ, cảng hàng không & dịch vụ hàng không dự báo sẽ hồi phục toàn phần, còn vận tải hàng không hồi phục chậm hơn và vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực trong năm 2021.

Các ngành bị ảnh hưởng gián tiếp như dầu khí, xăng dầu, dệt may, thủy sản dự báo sẽ hồi phục khoảng 70-80% so với mặt bằng trước dịch. Việc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng giúp các ngành xi măng, đá và vật liệu xây dựng hưởng lợi.

Về phía các nhóm ngành vẫn tiếp tục duy trì được sự tăng trưởng tích cực trong năm 2021 gồm có CNTT, cảng biển, dược phẩm, ống nhựa, thép, ô tô, cao su săm lốp… Dưới góc độ chu kỳ, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn hồi phục trong năm tới thì các nhóm ngành như BĐS, dịch vụ tiêu dùng, công nghiệp… sẽ có sự hồi phục mạnh mẽ nhất.

Theo dự báo 70 cổ phiếu niêm yết mà BVSC theo dõi, kết quả kinh doanh năm 2021 các doanh nghiệp này (chiếm trên 70% vốn hóa thị trường) có mức tăng trưởng về lợi nhuận lên tới 25,5% so với mặt bằng năm 2020, và cao hơn 4,7% so với năm 2019 – thời điểm trước dịch. Sự hồi phục trên diện rộng của các nhóm ngành trong năm 2021 dự kiến sẽ giúp cho mặt bằng P/E toàn thị trường quay về mức hợp lý – quanh 15,5, qua đó tiếp tục tạo được sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong năm 2021.

Tuy nhiên, vẫn còn đó một số thách thức và rủi ro tiềm ẩn đối với thị trường

Bên cạnh những yếu tố tích cực của TTCK Việt Nam trong năm 2021 vẫn còn đó các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra như các điểm nóng trong đối đầu quan hệ Mỹ - Trung, lạm phát tăng nhanh và NHTW các nước lớn tăng lãi suất sớm hơn dự kiến, giảm bơm tiền, nếu kinh tế không hồi phục như kỳ vọng sẽ khiến nợ xấu ngân hàng tăng mạnh…

Diễn biến của chỉ số lạm phát là yếu tố quan trọng: những tháng đầu năm, chỉ số lạm phát được dự báo giảm hoặc thấp do mức nền cao của nửa 2 tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, lạm phát nhiều khả năng sẽ tăng trở lại sau đó, khi dịch Covid được kiểm soát. Với sự hồi phục của nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng tăng lên, giá cả của một số nguyên vật liệu đang có dấu hiệu bật tăng trở lại như dầu khí, thép, hay giá của lương thực, thực phẩm.

Ngân hàng TW có thể các nước dừng các gói kích thích kinh tế, chuyển mục tiêu từ hỗ trợ tăng trưởng sang kiểm soát lạm phát. Sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát, nhiều nền kinh tế được dự báo sẽ tăng trưởng trở lại, chính sách tiền tệ nhiều khả năng sẽ không còn tiếp tục được nới lỏng như hiện nay.

Đối mặt với đại dịch Covid trong năm vừa qua, nhiều NHTW đã bơm lượng tiền lớn ra thị trường thông qua các gói hỗ trợ kinh tế khác nhau và cam kết sẽ duy trì những chính sách nới lỏng cho tới khi dịch Covid được kiểm soát. Do đó, trước tình hình dịch bệnh có những diễn biến tích cực khi số ca nhiễm mới mỗi ngày giảm và việc tiêm vaccine ngừa Covid-19 tiếp tục được thúc đẩy, nhiều quốc ta đã nhìn thấy triển vọng dịch bệnh được kiểm soát và kinh tế tăng trưởng trong năm 2021, qua đó, dần thắt chặt các chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát.

Quy mô thị trường cổ phiếu tăng nhanh tại HSX tạo áp lực lên hệ thống giao dịch. Thanh khoản ngày càng gia tăng khi chứng khoán trở thành kênh đầu tư hấp dẫn đã khiến hệ thống giao dịch quá tải. Do đó, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cần phải nhanh chóng có sự đổi mới và cải tiến để có thể đáp ứng được mật độ và quy mô giao dịch ngày càng lớn.

Ngoài ra, thách thức đối với TTCK Việt Nam còn đến từ việc gia tăng quy mô thị trường để có thể hấp thụ được dòng vốn nước ngoài chảy vào thị trường khi Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi. Đồng thời, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cũng cần phải nhanh chóng có sự đổi mới và cải tiến để có thể đáp ứng được mật độ và quy mô giao dịch ngày càng lớn.

Dòng vốn trong thị trường chứng khoán có thể sẽ bị cạnh tranh bởi các kênh đầu tư khác. Khi kinh tế ổn định hơn, nhiều cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, kênh thị trường bất động sản cũng đang có dấu hiệu ấm lên và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư, các lĩnh vực khác xuất hiện khiến dòng tiền sẽ chảy ngược từ thị trường chứng khoán sang các kênh đầu tư khác.

Thị trường chứng khoán luôn là sự đối đầu giữa kỳ vọng và quản trị rủi ro, nhưng với bối cảnh thuận lợi, chúng tôi tin rằng năm 2021 sẽ có những thời điểm chúng ta nhìn thấy những đỉnh cao mới, lịch sử của thị trường chứng khoán.

Ông Nhữ Đình Hoà - Thành viên HĐQT, Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán Bảo Việt

Theo Nhà đầu tư

Link nội dung: https://dvt.vn/boi-canh-kinh-te-vi-mo-va-tac-dong-toi-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-a82456.html